PDA

View Full Version : Hắc võng mạc trung tâm thanh dịch.



bshieuht
03-11-2010, 17:43
Mình muốn xem hình ảnh đáy mắt của bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch, ai có post cho mình với.
Cảm ơn nhiều

bsmat
06-11-2010, 21:33
mình muốn xem hình ảnh đáy mắt của bệnh hắc vỏng mạc trung tâm thanh dịch, ai có post cho mình với. cảm ơn nhiều

http://www.rvscny.com/csr.JPG
http://www.rvscny.com/csr-fa.JPG
http://www.rvscny.com/csr-oct.jpg

Có cả OCT và huỳnh quang đó!
Đọc bệnh học bệnh này đi nhé!Để hiểu nếu không chỉ nhìn hình không thôi là chẩn đoán sai đó!

tathata
07-11-2010, 12:26
Chào anh bsmat,
Cám ơn anh về hình ảnh và thông tin về Mắt mà anh đã chia sẻ với mọi người.

Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (mới), hay bệnh viêm võng mạc trung tâm (trước đây) là một trong các bệnh thuộc bán phần sau. Các bệnh thuộc bán phần sau được xem là khó về cả chẩn đoán và điều trị.

Nhờ anh chỉ cho cách soi đáy mắt để phát hiện các bệnh này, cũng như sử dụng sinh hiển vi để biết các hình thái đục T3, hay biết được loét tới lớp nào.

Em chân thành cảm ơn.

bsmat
07-11-2010, 19:50
Chào anh bsmat,
Cám ơn anh về hình ảnh và thông tin về Mắt mà anh đã chia sẻ với mọi người.

Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (mới), hay bệnh viêm võng mạc trung tâm (trước đây) là một trong các bệnh thuộc bán phần sau. Các bệnh thuộc bán phần sau được xem là khó về cả chẩn đoán và điều trị.

Nhờ anh chỉ cho cách soi đáy mắt để phát hiện các bệnh này, cũng như sử dụng sinh hiển vi để biết các hình thái đục T3, hay biết được loét tới lớp nào.

Em chân thành cảm ơn.

Chà chà!Em thật tham lam!Nhưng rất tốt vì em ham học!Trong chuyên mục này anh không thể hướng dẫn em hết tất cả được,anh sẽ nói sơ lược nhất để em biết được vấn đề nhé,vì:
1.Võng mạc làm một chuyên đề lớn của nhãn khoa,sự thất có nhiều bác sĩ đã làm nhiều năm rồi nhưng vẫn không biết được nguyên lý của võng mạc về triệu chứng học và bệnh học của võng mạc,họ chỉ có những kiến thức cơ bản của những bệnh phổ biến chứ không phải kiến thức của một chuyên gia về võng mạc.Muốn thành chuyên gia về dịch kính võng mạc em cần được đào tạo bài bản từ giải phẫu,các nguyên lý,triệu chứng học võng mạc,bệnh học võng mạc.Trong đó lại được chia ra các bệnh về mạch máu võng mạc,bệnh hoàng điểm,bệnh của biểu mô sắc tố,bệnh di truyền,chấn thương võng mạc,bệnh của võng mạc chu biên...v.v.Có như vậy mới điều trị nội khoa tốt được sau đó học các vấn đề về phẫu thuật dịch kính võng mạc,kèm theo đó là các cận lâm sàng của võng mạc.
Dĩ nhiên những kiến thức này không được giới thiệu hết trong quá trình đào tạo cao học cũng như nội trú tại VN mà dành cho những lớp chuyên đề sâu đào tạo cho chuyên gia.
2.Những thứ em hỏi cần phải được tận tay chỉ việc cho em thì em mới biết được vì sử dụng được thành thạo các dụng cụ khám mắt không phải dễ, cần có thời gian dài chỉ để học nhận biết thế nào là con mắt bình thường rồi sau đó mới học nhận dạng triệu chứng.Sinh hiển vi khám mắt là thiết bị tối thiểu mà em chưa dùng thạo được thì chưa thể nói thêm kỹ thuật khám nào khác!

bshieuht
08-11-2010, 12:42
Cảm ơn bsmat rất nhiều. Tôi sẽ về đọc tài liệu về bệnh này. Có gì tôi sẽ hỏi anh thêm. Chắc tôi phải học hỏi anh nhiều. Nhãn khoa đối với tôi vẫn còn rất phức tạp.

bsmat
08-11-2010, 15:45
Cảm ơn bsmat rất nhiều. Tôi sẽ về đọc tài liệu về bệnh này. có gì tôi sẽ hỏi anh thêm. chắc tôi phải học hỏi anh nhiều. Nhãn khoa đối với tôi vẫn còn rất phức tạp.

Không dám nói là học hỏi đâu!Chỉ là cùng thảo luận thôi,vì có những vấn đề mà bạn biết mà tôi chưa biết hoặc chưa biết sâu!

bsmat
10-11-2010, 00:02
Tôi muốn biết các bạn điều trị bệnh này thế nào?Đặc biệt là tuyến Tỉnh và tuyến huyện,những nơi ở xa TW!
Quan điểm của các bạn về bệnh này?

bshieuht
10-11-2010, 10:20
Thưa bsmat, tôi đang làm ở tuyến tỉnh,lần trước có gặp 1 bệnh nhân được chẩn đoán hắc võng mạc trung tâm thanh dịch. Được điều trị nội trú 7 ngày,sau đó cho đơn thuốc về nhà uống thêm 5 ngày và hẹn tái khám sau hết thuốc. Điều trị bằng acetezolamid uống, thuốc dãn mạch uống, vitamin 3B, thị lực lúc ra viện có tăng từ 2/10 lên 4/10. Hiện tại chưa thấy BN tái khám. Bsmat có y kiến gì ko?

bsmat
10-11-2010, 12:25
Thưa bsmat, tôi đang làm ở tuyến tỉnh,lần trước có gặp 1 bệnh nhân được chẩn đoán hắc võng mạc trung tâm thanh dịch. Được điều trị nội trú 7 ngày,sau đó cho đơn thuốc về nhà uống thêm 5 ngày và hẹn tái khám sau hết thuốc. Điều trị bằng acetezolamid uống, thuốc dãn mạch uống, vitamin 3B, thị lực lúc ra viện có tăng từ 2/10 lên 4/10. Hiện tại chưa thấy BN tái khám. Bsmat có y kiến gì ko?

Tôi sẽ giúp các bạn hiểu hơn về bệnh này!

1. Các tên gọi đã từng dùng cho bệnh này:
- Viêm võng mạc trung tâm tái phát (Von Graefe, 1866).
- Viêm võng mạc trung tâm (Asayama, 1898).
- Viêm hắc võng mạc trung tâm thanh dịch: Uhthoff (1912); Hasuda (1914), Fuchs (1916); Kitahara (1932).
- Bong võng mạc dẹt nguyên phát vùng hoàng điểm (Walsh và Sloan, 1934).
- Bệnh võng mạc trung tâm thanh dịch (Dorne, 1971 và Coscas, 1972).
Do bệnh ảnh hưởng cả hắc mạc và võng mạc nên thuật ngữ thường được sử dụng hơn là bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch.
Ngày nay với trang thiết bị hiện đại người ta đã hiểu sâu hơn về bản chất tổn thương võng mạc của bệnh này.Các tài liệu của Mỹ cũng gọi bệnh này theo bản chất tổn thương là: (serous detachment of the neurosensory retina) Bong thanh dịch võng mạc thần kinh
Xem H1http://www.biomedcentral.com/content/figures/1471-2415-6-33-1-l.jpgHình chụp OCT này cho thấy lớp thần kinh bị bong hẳn ra khỏi lớp biểu mô sắc tố.Giữa đó là dịch.Thể điển hình

H2http://www.rvscny.com/csr-oct.jpgHình chụp OCT này cho thấy có 2 ổ dịch,một lớn,một nhỏ.Ổ lớn là dịch giữa lớp thần kinh và biểu mô sắc tố,Ổ nhỏ hơn là bong biểu mô sắc tố.Đây là hình thái phối hợp.

H3http://www.nature.com/eye/journal/v22/n3/images/6703020f1.jpg Cũng là phối hợp nhưng 2 ổ này lớn hơn

H4http://img541.imageshack.us/img541/5544/15411925.pngHình này là thể bong biểu mô sắc tố thuần khiết
2.Sinh lý bệnh
Chụp ICG đã chứng minh sự tăng tính thấm hắc mạc nhiều vị trí và vùng giảm bắt màu đã gợi ý sự tham gia của mạch máu hắc mặc khu trú.Một số nghiên cứu cho rằng sự biến đổi của mạch máu hắc mạc dẫn đến rối loạn chức năng biểu mô sắc tố.Ngoài ra giả thuyết về gia tăng cortisol và epinephrine đã tác động lên tuần hoàn hắc mạc.Nguy cơ tân mạch hắc mạc ở người lớn tuổi cao hơn người trẻ
3.Lâm sàng
Dịch tễ
Tuổi: 30-50
Giới: Nam > nữ
Phần lớn bị ở một mắt,một số ít bị hai mắt
Tính chất hay tái phát
Bệnh hắc võng trung tâm thanh dịch điển hình.

Cơ năng
Hội chứng hoàng điểm: Nhìn mờ: Thị lực giảm không hoàn toàn giống nhau, thường giảm còn 5/10 – 6/10; giai đoạn đầu, dùng kính viễn + 0,5D – (+1 + 1,5D) thị lực tăng. Có hiện tượng giả viễn thị do võng mạc bị đội lên bởi dịch rỉ dưới võng mạc.
Ám điểm trung tâm: Bệnh nhân thấy có đám mờ hoặc tối trước mắt. Ám điểm xuất hiện do rối loạn cơ năng của tế bào nón, nó bị tách ra khỏi biểu mô sắc tố bởi dịch rỉ và trao đổi dinh dưỡng giữa tế bào nón với mao mạch hắc mạc bị ảnh hưởng.
- Nhìn vật biến dạng, méo, cong, thu nhỏ và xa ra. Dùng lưới Amsler khám sẽ thấy các đường thẳng bị cong, méo mó, thường có cả ám điểm.
- Rối loạn sắc giác: Rối loạn sắc giác trục xanh – vàng là triệu chứng sớm nhất của bệnh, tồn tại lâu, khi bệnh đã ổn định, rối loạn sắc giác vẫn còn trong khoảng 2 – 3 tháng. Nó có giá trị trong chẩn đoán, theo dõi tiến triển và tiên lượng của bệnh: khi bệnh giảm rối loạn sắc giác cũng giảm, nếu bệnh tái phát nhiều lần, rối loạn sắc giác trục xanh – vàng sẽ tồn tại mãi mãi.
- Thích ứng sáng tối giảm sút: Test loá hoàng điểm: Chiếu sáng vùng hoàng điểm trong 30 giây với máy soi đáy mắt thông thường. Đo thị lực trước và sau khi làm test. Bình thường sau 30 – 50 giây, thị lực hồi phục bằng trước khi làm test. Trong các bệnh hoàng điểm, thị lực hồi phục chậm hơn người bình thường 4 – 5 lần.
Triệu chứng thực thể
Đáy mắt.
- Hoàng điểm sẫm màu, giảm hay mất ánh trung tâm.
- Dấu hiệu chính là bong thanh dịch võng mạc vùng hoàng điểm (bọng giữa lớp võng mạc cảm thụ và biểu mô sắc tố bởi một lớp dịch trong) kích thước thường khoảng 2 – 3 đường kính đĩa thị, bờ của vùng bong nghiêng và hoà nhập dần với vùng võng mạc xung quanh còn nguyên vẹn.
- Soi lập thể với đèn khe, kính Goldmann, kính Hruby hoặc kính Volk 60D – 90D giúp nhìn thấy vùng bong rõ hơn, ngoài ra nó còn giúp loại trừ màng tân mạch hắc mạc cũng xảy ra đồng thời.
Trên bọng bong này có thể thấy những chấm tủa màu vàng nhạt, nhỏ như đầu kim, tách biệt nhau, ranh giới rõ ràng, không có khuynh hướng kết nhập lại.
Các chấm tủa không có ngay từ những ngày đầu bị bệnh mà xuất hiện sau vài tuần tiến triển (theo Dorne, 1971: thường là sau 4 tuần).
Chú ý: Nếu có lẫn rối loạn sắc tố, tân mạch hay xuất huyết nên nghĩ đến phối hợp bệnh khác của vùng hoàng điểm.
Huỳnh quang
Mạch ký huỳnh quang góp phần quan trọng trong chẩn đoán xác định bệnh, đặc biệt trong những trường hợp triệu chứng soi đáy mắt không điển hình.
Hình ảnh thường gặp nhất là một chấm nhỏ, tăng huỳnh quang từ bình diện sâu do rò từ biểu mô sắc tố võng mạc, nó xuất hiện sớm, càng về sau càng tăng dần về đậm độ và diện tích. Chất huỳnh quang toả lan vào khoang dưới võng mạc, có thể hình tròn, hình chổi lông hay vòi nước.
Bọng bong thanh dịch có ranh giới thấy rõ dưới ánh sáng qua filtre (phin) lọc cho màu xanh lục. Trong quá trình chụp mạch huỳnh quang, ở thì sớm nó thể hiện là một vùng giảm huỳnh quang do hiệu ứng che lấp huỳnh quang của hắc mạc. Đến thì muộn, nó lại là một vùng tăng huỳnh quang nhẹ do hiện tượng khuếch tán dần chất Fluorescein từ điểm rò vào khoảng dưới võng mạc.
OCT
Bong thanh dịch võng mạc nhận cảm biểu hiện bằng hình ảnh giảm tín hiệu hình thấu kính, có thể kèm theo hình ảnh bong biểu mô sắc tố võng mạc (giảm tín hiệu dưới lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố) với kích thước 3 chiều.
Thể bong biểu mô sắc tố đơn thuần.

Triệu chứng cơ năng:
Nếu vị trí bong biểu mô sắc tố không ở tại vùng hoàng điểm, bệnh nhân sẽ không có hội chứng hoàng điểm.
Đáy mắt:
Hình ảnh điển hình của bong biểu mô sắc tố là những tổn thương hình tròn, màu vàng – xám, bờ rõ, nằm sâu tại lớp biểu mô sắc tố, đội nhẹ võng mạc.
Hình ảnh chụp mạch huỳnh quang:
Tăng huỳnh quang từ rất sớm, với cường độ tăng dần, ranh giới rõ, không thay đổi kích thước theo thời gian, không có hiện tượng khuếch tán ở thì muộn.
OCT
Cho hình ảnh một lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố và giảm tín hiều hình thấu kính ở dưới của khối dịch dưới biểu mô sắc tố võng mạc.

Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch không điển hình.

Đáy mắt:
Có thể thấy bong thanh dịch võng mạc cảm thụ, bong biểu mô sắc tố võng mạc, những biến đổi của biểu môi sắc tố võng mạc.
Hình ảnh chụp mạch huỳnh quang:
- Có thể không thấy điểm rò. Người ta cho rằng nó quá nhỏ hoặc bị che lấp, hoặc đã sẹo hoá. Trên thực tế từ 2 đến 6 tuần, điểm rò có thể mất đi.
- Hoặc điểm rò mất lớn có thể gây giả tân mạch dưới võng mạc.
- Có thể kèm theo hình ảnh bong biểu mô sắc tố hoặc kèm theo hình ảnh biến đổi biểu mô sắc tố.
OCT
Có sự tồn tại vùng giảm tín hiệu thể hiện có bong thanh dịch võng mạc hoặc bong biểu mô sắc tố, lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố.

Bệnh biểu mô sắc tố võng mạc toả lan
Thường gặp ở nam giới, độ tuổi trên 40, bệnh có tính chất mạn tính với nhiều đợt tái phát liên tiếp, tiên lượng về thị lực xấu.
Triệu chứng cơ năng
Những dấu hiệu chức năng biến đổi rất rõ với thị lực giảm nhiều, nhìn hình bị biến dạng và thu nhỏ, test Amsler cho thấy ám điểm trung tâm rõ cùng hiện tượng nhìn méo hình.
Đáy mắt
Bong thanh dịch võng mạc thường thấp, có nhiều ổ, khó phát hiện, gặp nhiều ở vùng quanh đĩa thị hơn vùng hoàng điểm.
Chụp mạch huỳnh quang
Có nhiều điểm khuyếch tán chất màu mạn tính, thường hoạt tính thấp (hiếm gặp hình ảnh chổi lông, vòi nước).
Thường phối hợp với bong biểu mô sắc tố, tuần hoàn hắc mạc bình thường.
Những mảng lớn biến đổi biểu mô sắc tối đa dạng và nhiều ổ đưa đến hình ảnh “đuôi sao chổi” với điểm khởi phát tại đĩa thị.
OCT:
Có sự giảm tín hiệu của lớp thanh dịch mỏng lan toả dưới võng mạc hoặc dưới biểu mô sắc tố, tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố, có thể biến đổi chiều dày của biểu mô sắc tố và võng mạc.

Điều trị
Trong lịch sử ngành mắt đã từng có bác sĩ dùng Hydrocortisol pha với divascol để tiêm cạnh nhãn cầu hoặc dùng medrol đường uống cho bệnh nhân.Đây là một phương pháp hoàn toàn sai vì sẽ gây bong thanh dịch nặng hơn và bong đa ổ.
Một số tài liệu cũ cũng đề cập tới việc dùng Acetazolamid để làm giảm phù nhanh,trên thực tế hiện tại vẫn có người dùng nhưng không điều trị được nguyên nhân
Quan điểm hiện nay đối với bệnh này là không cần dùng thuốc vì bệnh thường tự lui và coi nó là một bệnh lành tính.Trong trường hợp bong thanh dịch tái phát nhiều lần có thể dùng laser bịt điểm rò với trường hợp một ổ rò và cách vị trí hoàng điểm từ 450 micromet trở lên.Với trường hợp nhiều ổ rò, thường khó hơn và vẫn tái phát.
Không dùng corticoid để điều trị bệnh này.Với trường hợp bệnh nhân bị bệnh toàn thân,mạn tính mà bắt buộc phải dùng corticoid khi xuất hiện bong thanh dịch thì phải cân nhắc giảm liều hoặc ngừng dùng,phải hổi chẩn với bác sĩ đang điều trị cho bệnh nhân bằng corticoid để đưa ra điều trị thích hợp.

Đây là hình ảnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch đa ổ:
http://farm3.static.flickr.com/2558/3841714637_f9abd3cc64.jpg

Bệnh nhân này bị bong thanh dịch đa ổ do dùng corticoid kéo dài để điều trị viêm cầu thận mạn!
http://img833.imageshack.us/img833/994/diemledinh1970010182103.jpg
http://img263.imageshack.us/img263/5185/diemledinh1970010182111.jpg
Trên huỳnh quang(hình này là thì muộn) có biểu hiện bong đa ổ và hình thái phối hợp giữa bong thanh dịch võng mạc thần kinh và bong biểu mô sắc tố!

bshieuht
12-11-2010, 11:19
Thưa bsmat, tôi có hai thắc mắc xin hỏi
1. Trong thể hắc võng trung tâm thanh dịch điển hình, phần rối loạn sắc giác bsmat có cho biết "Rối loạn sắc giác trục xanh – vàng là triệu chứng sớm nhất của bệnh" vậy triệu chứng muộn thì những rối loạn sắc giác sẽ như thế nào? và tại sao trục vàng xanh lại rối loạn sớm nhất?
2. Tôi có đọc 1 số tài liệu thấy phần điều trị có dùng thuốc dãn mạch? tôi thắc mắc tại sao lại dùng thuốc này? vì hắc võng trung tâm thanh dịch có sự tăng tính thấm của mạch máu hắc mạc?
Cảm ơn bsmat

bsmat
12-11-2010, 22:37
Thưa bsmat, tôi có hai thắc mắc xin hỏi
1. Trong thể hắc võng trung tâm thanh dịch điển hình, phần rối loạn sắc giác bsmat có cho biết "Rối loạn sắc giác trục xanh – vàng là triệu chứng sớm nhất của bệnh" vậy triệu chứng muộn thì những rối loạn sắc giác sẽ như thế nào? và tại sao trục vàng xanh lại rối loạn sớm nhất?
2. Tôi có đọc 1 số tài liệu thấy phần điều trị có dùng thuốc dãn mạch? tôi thắc mắc tại sao lại dùng thuốc này? vì hắc võng trung tâm thanh dịch có sự tăng tính thấm của mạch máu hắc mạc?
Cảm ơn bsmat

1.Thực ra không chỉ bệnh HVMTTTD có rối loạn nhận biết màu đâu,những bệnh có tổn hại các tế bào thị giác,biểu mô sắc tố đều có rối loạn ít nhiều.Cái từ "Rối loạn sắc giác trục xanh – vàng" tiếng Anh hay dùng là "greenish discoloration of central vision in the eye" ý muốn nói về phổ màu màu xanh lá cây và màu vàng không nhầm với xanh da trời (blue).Trên những bệnh nhân này tôi cũng đã dùng thử test màu Ishihara , thì đúng là những bảng màu của phổ màu xanh lá cây và vàng,bệnh nhân đều đọc sai hoặc không nhìn thấy số ẩn bên trong.Đây là khám nghiệm mình làm thêm thôi chứ không dùng test này để chẩn đoán bệnh mà chỉ được phép nghĩ đến rằng bệnh nhân này có vấn đề về sắc giác và mình cần phải tìm nguyên nhân gây tổn hại tế bào cảm thụ võng mạc.Những bệnh nhân bị lần đầu thì sau một thời gian có thể sẽ hồi phục cả thị lực và sắc giác,nhưng nếu bị tái phát nhiều lần thì sắc giác sẽ bị rối loạn mạn tính và không hồi phục hoặc hồi phục một phần.
2.Tài liệu dùng giãn mạch cũ rồi!Các công trình nghiên cứu đã chứng minh,khi theo dõi 2 nhóm bệnh nhân một dùng giãn mạch,một không dùng gì cả thì thời gian hết dịch là như nhau và vẫn tái phát.Cách dùng thuốc này chỉ tồn tại ở những bác sĩ ít đọc các tài liệu mới thôi.Giãn mạch mà gây thoát dịch thì tại sao lại dùng thuốc giãn mạch làm gì!Hiện tại bệnh này người ta không cần dùng thuốc uống vì sẽ tự hết.Điểm rò nào bịt được thì sẽ dùng quang đông.
Cái lối tư duy dùng indometacin,corticoid,giãn mạch là do lập luận sai lầm về cơ chế bệnh sinh.Các tài liệu của Mỹ chẳng thấy có cách điều trị này.

drsutucai
12-12-2010, 18:29
BsMat ơi,hình như bs không ở Việt Nam phải không? Em có ý định du học ngành Y ở Mỹ hoặc Canada. Bsmat có thể cho em vài lời khuyên được không? Em cảm ơn trước ạ.

bsmat
13-12-2010, 17:46
BsMat ơi,hình như bs không ở Việt Nam phải không? Em có ý định du học ngành Y ở Mỹ hoặc Canada. Bsmat có thể cho em vài lời khuyên được không? Em cảm ơn trước ạ.

Tôi hoàn toàn ở VN
Lời khuyên của tôi là hãy học những kiến thức chuẩn mực!

nguyenphuc_hg
08-01-2011, 23:49
Chào bsmat!
Tôi được chẩn đoán bị bệnh này. Hiện đã dừng uống thuốc khoảng 1 tháng rồi nhưng không thấy bệnh tiến triển gì.
Xin hỏi bsmat có thể cho tôi một phác đồ điều trị được không? và bệnh này tiêm có hiểu quả hơn uống thuốc không?

Xin cám ơn!

bsmat
09-01-2011, 14:12
Chào bsmat!
Tôi được chẩn đoán bị bệnh này. Hiện đã dừng uống thuốc khoảng 1 tháng rồi nhưng không thấy bệnh tiến triển gì.
Xin hỏi bsmat có thể cho tôi một phác đồ điều trị được không? và bệnh này tiêm có hiểu quả hơn uống thuốc không?

Xin cám ơn!

Bệnh này tự khỏi được!Không phải dùng thuốc!chỉ định duy nhất đó là dùng quang đông nếu có điểm rò cách xa vũng hoàng điểm từ 450 micromet trở lên!
corticoid là chống chỉ định dùng trong bệnh này vì bản thân các chế phẩm của thuốc này cũng gây bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch!

Với bệnh này bạn nên nghỉ ngơi,giữ tâm lý thoải mái.Nếu có tân mạch hắc mạc sẽ điều trị tân mạch.
Bạn nên đến bv mắt chụp huỳnh quang và OCT để xác định bản chất tổn thương sau đó sẽ có hướng tiếp theo cho bạn!

Chúc bạn mau khỏi!

nguyenphuc_hg
07-06-2011, 16:03
Chào bsmat,

Tôi đã đi khám và điều trị tại viện mắt trung ương được 2 tháng về bệnh này. Cho đến đợt thuộc vừa rồi (đợt thuốc cuối cùng) bác sĩ điều trị cho tôi nói khả năng tiến triển bệnh của tôi không cao. Ông ấy nói nó đã hình thành một vết sẹo trong ổ dịch và bệnh của tôi đã chuyển thành sơ rồi. Trong 2 tháng điều trị mình thấy thị lực không đc cải thiện.
Vậy nếu mình sử dụng phương pháp quang đông laze nó có hiệu quả hơn không?

bsmat
07-06-2011, 18:42
Chào bsmat,

Tôi đã đi khám và điều trị tại viện mắt trung ương được 2 tháng về bệnh này. Cho đến đợt thuộc vừa rồi (đợt thuốc cuối cùng) bác sĩ điều trị cho tôi nói khả năng tiến triển bệnh của tôi không cao. Ông ấy nói nó đã hình thành một vết sẹo trong ổ dịch và bệnh của tôi đã chuyển thành sơ rồi. Trong 2 tháng điều trị mình thấy thị lực không đc cải thiện.
Vậy nếu mình sử dụng phương pháp quang đông laze nó có hiệu quả hơn không?

Nếu bạn khám ở viện mắt TW thì sẽ được chụp huỳnh quang!Nếu có thì post lên đây cho tôi nhé!Thường khi tạo sẹo xơ ở võng mạc thì không thể điều trị để thị lực tăng được nữa mà chỉ phòng biến chứng có thể xảy ra như tân mạch hắc mạc.

nguyenphuc_hg
07-07-2011, 09:46
Nếu bạn khám ở viện mắt TW thì sẽ được chụp huỳnh quang!Nếu có thì post lên đây cho tôi nhé!Thường khi tạo sẹo xơ ở võng mạc thì không thể điều trị để thị lực tăng được nữa mà chỉ phòng biến chứng có thể xảy ra như tân mạch hắc mạc.

Chào bsmat,
Mặc dùkhám và điều trị ở bệnh viện mắt TW nhưng khi điều trị xong tôi xin lại phác đồ điều trị và hồ sơ bệnh án nhưng họ không cho nên ko mang đc anh huỳnh quang vê. Bác sĩ có thể chỉ rõ hơn về cách phòng biến chứng của bệnh này không ạ?
Cảm ơn bác sĩ nhiều

bsmat
07-07-2011, 13:31
Chào bsmat,
Mặc dùkhám và điều trị ở bệnh viện mắt TW nhưng khi điều trị xong tôi xin lại phác đồ điều trị và hồ sơ bệnh án nhưng họ không cho nên ko mang đc anh huỳnh quang vê. Bác sĩ có thể chỉ rõ hơn về cách phòng biến chứng của bệnh này không ạ?
Cảm ơn bác sĩ nhiều

Tôi không rõ mức độ tổn thương của bạn nên khuyên bạn một cách cơ bản như sau:
Luôn giữ tinh thần thoải mái không thức khuya, không dùng rượu, bia các chất kích thích (cafe, thuốc lá...).Nếu công việc phải đi đường nhiều phải đeo kính mắt chống lóa và UIV.Khi phải dùng thuốc điều trị một bệnh nào khác cần báo cho bác sĩ của bạn biết rằng bệnh mắt của bạn chống chỉ định với các chế phẩm corticoid!
Chúc bạn luôn lạc quan với cuộc sống!

Cúnkid
11-08-2011, 15:15
Chào bsmat. Tôi mới đăng ký nick và post bài này là bài đầu tiên. Bsmat cho tôi hỏi : ngày 24/7 tôi được chẩn đoán là hắc võng mạc trung tâm thanh dịch. Sau khi khám được bác sĩ ở viện mắt trung ương cho uống thuốc : golvaska + circuton. Tôi uống trong 2 tuần thì thấy đau đầu kinh khủng. Tôi có quay lại BV mắt TW khám thì lúc này chẩn đoán có hiện tượng chảy máu võng mạc. Vị trí chảy máu ko thể dùng laser được. Nguyên nhân chảy máu cũng chứ được xác định rõ ràng mà đc bảo là có thể do tân mạch. Bác sĩ ở đấy cũng bảo là có thể phải tiêm avastin.

Bác sĩ cho tôi hỏi: bệnh này có gây mù mắt ko? Thời gian điều trị mất khoảng bao lâu? Và chi phí tiêm avastin là khoảng bao nhiêu tiền? Tôi muốn biết để còn chuẩn bị sẵn tinh thần.

bsmat
11-08-2011, 20:06
Trong trường hợp của bạn phần lớn là do nguyên nhân tân mạch hắc mạc!Nếu bạn có thể tải phim chụp huỳnh quang 2 mắt lên đây thì tốt nhất!Giá 1 lần tiêm avastin là khoảng 1triệu 300 một mũi!Tân mạch hắc mạc vùng hoàng điểm là một trong nhưng nguyên nhân gây mù mắt!

Cúnkid
12-08-2011, 12:45
Cám ơn bác sĩ. Hnay mình mới lấy lại hồ sơ. Tối nay mình sẽ tìm cách tải hình ảnh lên. Nhưng mình chỉ có hình ảnh chụp mạch huỳnh quang của mắt trái còn mắt phải của mình chụp thấy bảo bình thường nên các bác sĩ họ không in ra cho mình.

Mình là nữ năm nay 35 tuổi và mắt bị cận thị 3,25 diop thì có ảnh hưởng gì tới bệnh ko?

Bác sĩ cho mình hỏi tiêm Avastin thì phải tiêm trong bao lâu? Mình thấy bảo 5 tuần tiêm 1 phát.

bsmat
12-08-2011, 19:16
Cám ơn bác sĩ. Hnay mình mới lấy lại hồ sơ. Tối nay mình sẽ tìm cách tải hình ảnh lên. Nhưng mình chỉ có hình ảnh chụp mạch huỳnh quang của mắt trái còn mắt phải của mình chụp thấy bảo bình thường nên các bác sĩ họ không in ra cho mình.

Mình là nữ năm nay 35 tuổi và mắt bị cận thị 3,25 diop thì có ảnh hưởng gì tới bệnh ko?

Bác sĩ cho mình hỏi tiêm Avastin thì phải tiêm trong bao lâu? Mình thấy bảo 5 tuần tiêm 1 phát.

Uh!Avastin bản chất là thuốc kháng yếu tố tăng sinh nội mô mạch máu (yếu tố quan trọng sinh ra tân mạch).Tùy vào tình trạng tiến triển của tân mạch mà tương ứng với số lần tiêm.Có những bệnh nhân tiêm 2 lần đã thấy hết tân mạch nhưng cũng có người tiêm 8 mũi mà chưa hết.Hi vọng trường hợp của bạn chưa tạo ra các mảng xơ mạch (nguyên nhân làm giảm hiệu quả điều trị).Trên mắt cận thị cũng có trường hợp bị tân mạch hắc mạc nhưng tỉ lệ rất ít.Tân mạch hắc mạc ở người trẻ thường khó tìm nguyên nhân.

bacsi_luoibieng
12-08-2011, 21:43
nhân trường hợp này, bsmat cho em hỏi luôn
Có cần cho bệnh nhân làm quang đông vùng tân mạch hắc mạc luôn không ? khỏi tiêm Avastin làm gì cho gọn

Bài tham khảo thêm

BỆNH HẮC VÕNG MẠC TRUNG TÂM THANH DỊCH
(Central serous chorioretinopathy)

Đây là một bệnh đã được biết tới từ lâu. Từ trước đến nay bệnh được gọi với nhiều tên khác nhau:
- Viêm võng mạc trung tâm tái phát (Von Graefe, 1866).
- Viêm võng mạc trung tâm (Asayama, 1898).
- Viêm hắc võng mạc trung tâm thanh dịch: Uhthoff (1912); Hasuda (1914), Fuchs (1916); Kitahara (1932).
+ Bong võng mạc dẹt nguyên phát vùng hoàng điểm (Walsh và Sloan, 1934).
+ Bệnh võng mạc trung tâm thanh dịch (Dorne, 1971 và Coscas, 1972).
Do bệnh ảnh hưởng cả hắc mạc và võng mạc thuật ngữ thường được sử dụng hơn ngày nay là bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch.
Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch đặc trưng bằng sự xuất hiện một bọng thanh dịch của võng mạc cảm thụ do biến đổi hàng rào hoặc các chức năng bơm ở biểu mô sắc tố võng mạc.

I. LÂM SÀNG.
Đây là bệnh của người trẻ và trung niên (từ 30 – 50 tuổi) nam gặp nhiều hơn nữ với tỷ lệ nam/nữ là 10/1; đại bộ phận bị một mắt, song cũng có một tỷ lệ nhất định bị cả hai mắt. Bệnh có tính tái phát, nhiều tác giả báo cáo tỷ lệ tái phát là 30% trong vòng 2 năm.
Người ta chia bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch thành 4 thể chủ yếu dựa vào hình ảnh chụp mạch huỳnh quang võng mạc
- Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch điển hình
- Thể bong biểu mô sắc tố đơn thuần
- Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch không điển hình
- Bệnh biểu mô sắc tố võng mạc toả lan

1.1. Triệu chứng cơ năng.
Các hình thái lâm sàng có triệu chứng cơ năng gần giống nhau. Chỉ biểu hiện những triệu chứng cơ năng khi bọng bong thanh dịch đã lan tới vùng trung tâm biểu hiện bằng hội chứng hoàng điểm.
Hội chứng hoàng điểm: Nhìn mờ: Thị lực giảm không hoàn toàn giống nhau, thường giảm còn 5/10 – 6/10; giai đoạn đầu, dùng kính viễn + 0,5D – 1 + 1,5D thị lực tăng. Có hiện tượng giả viễn thị do võng mạc bị đội lên bởi dịch rỉ dưới võng mạc.
Ở những bệnh nhân tái phát nhiều lần thị lực có thể chỉ còn 1/10 hoặc thấp hơn.
- Ám điểm trung tâm: Bệnh nhân thấy có đám mờ hoặc tối trước mắt. Ám điểm xuất hiện do rối loạn cơ năng của tế bào nón, nó bị tách ra khỏi biểu mô sắc tố bởi dịch rỉ và trao đổi dinh dưỡng giữa tế bào nón với mao mạch hắc mạc bị ảnh hưởng.
- Nhìn vật biến dạng, méo, cong, thu nhỏ và xa ra. Dùng lưới Amsler khám sẽ thấy các đường thẳng bị cong, méo mó, thường có cả ám điểm.
- Rối loạn sắc giác: Rối loạn sắc giác trục xanh – vàng là triệu chứng sớm nhất của bệnh, tồn tại lâu, khi bệnh đã ổn định, rối loạn sắc giác vẫn còn trong khoảng 2 – 3 tháng. Nó có giá trị trong chẩn đoán, theo dõi tiến triển và tiên lượng của bệnh: khi bệnh giảm rối loạn sắc giác cũng giảm, nếu bệnh tái phát nhiều lần, rối loạn sắc giác trục xanh – vàng sẽ tồn tại mãi mãi.
- Thích ứng sáng tối giảm sút: Test loá hoàng điểm: Chiếu sáng vùng hoàng điểm trong 30 giây với máy soi đáy mắt thông thường. Đo thị lực trước và sau khi làm test. Bình thường sau 30 – 50 giây, thị lực hồi phục bằng trước khi làm test. Trong các bệnh hoàng điểm, thị lực hồi phục chậm hơn người bình thường 4 – 5 lần.

1.2. Triệu chứng thực thể và cận lâm sàng.
1.2.1. Bệnh hắc võng trung tâm thanh dịch điển hình.
* Đáy mắt.
- Hoàng điểm sẫm màu, giảm hay mất ánh trung tâm.
- Dấu hiệu chính là bong thanh dịch võng mạc vùng hoàng điểm (bọng giữa lớp võng mạc cảm thụ và biểu mô sắc tố bởi một lớp dịch trong) kích thước thường khoảng 2 – 3 đường kính đĩa thị, bờ của vùng bong nghiêng và hoà nhập dần với vùng võng mạc xung quanh còn nguyên vẹn.
- Soi lập thể với đèn khe, kính Goldmann, kính Hruby hoặc kính Volk 60D – 90D giúp nhìn thấy vùng bong rõ hơn, ngoài ra nó còn giúp loại trừ màng tân mạch hắc mạc cũng xảy ra đồng thời.
Trên bọng bong này có thể thấy những chấm tủa màu vàng nhạt, nhỏ như đầu kim, tách biệt nhau, ranh giới rõ ràng, không có khuynh hướng kết nhập lại.
Các chấm tủa không có ngay từ những ngày đầu bị bệnh mà xuất hiện sau vài tuần tiến triển (theo Dorne, 1971: thường là sau 4 tuần).
Chú ý: Nếu có lẫn rối loạn sắc tố, tân mạch hay xuất huyết nên nghĩ đến phối hợp bệnh khác của vùng hoàng điểm.

* Các triệu chứng âm tính:
- Đĩa thị: Bình thường.
- Hệ mạch võng mạc: Bình thường.
- Võng mạc nơi khác: Bình thường, võng mạc trong.
Sự giảm thị lực nặng lâu dài (1/10) có liên quan đến sự tồn tại của phù hoàng điểm dạng nang, thoái hoá biểu mô sắc tố và tân mạch hắc mạc.
Không phù, không có sắc tố, tân mạch, sẹo hoặc xuất huyết dưới võng mạc.
- Dịch kính: Bình thường.

* Chụp mạch huỳnh quang:
Mạch ký huỳnh quang góp phần quan trọng trong chẩn đoán xác định bệnh, đặc biệt trong những trường hợp triệu chứng soi đáy mắt không điển hình.
Hình ảnh thường gặp nhất là một chấm nhỏ, tăng huỳnh quang từ bình diện sâu do rò từ biểu mô sắc tố võng mạc, nó xuất hiện sớm, càng về sau càng tăng dần về đậm độ và diện tích. Chất huỳnh quang toả lan vào khoang dưới võng mạc, có thể hình tròn, hình chổi lông hay vòi nước.
Bọng bong thanh dịch có ranh giới thấy rõ dưới ánh sáng qua filtre (phin) lọc cho màu xanh lục. Trong quá trình chụp mạch huỳnh quang, ở thì sớm nó thể hiện là một vùng giảm huỳnh quang do hiệu ứng che lấp huỳnh quang của hắc mạc. Đến thì muộn, nó lại là một vùng tăng huỳnh quang nhẹ do hiện tượng khuếch tán dần chất Fluorescein từ điểm rò vào khoảng dưới võng mạc.

* Chụp cắt lớp võng mạc bằng OCT:
(OCT : Optic Coherence tomography - chụp cắt lớp bằng ánh sáng cố kết).
Bong thanh dịch võng mạc nhận cảm biểu hiện bằng hình ảnh giảm tín hiệu hình thấu kính, có thể kèm theo hình ảnh bong biểu mô sắc tố võng mạc (giảm tín hiệu dưới lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố) với kích thước 3 chiều.

1.2.2. Thể bong biểu mô sắc tố đơn thuần.
* Triệu chứng cơ năng:
Nếu vị trí bong biểu mô sắc tố không ở tại vùng hoàng điểm, bệnh nhân sẽ không có hội chứng hoàng điểm.

* Đáy mắt:
Hình ảnh điển hình của bong biểu mô sắc tố là những tổn thương hình tròn, màu vàng – xám, bờ rõ, nằm sâu tại lớp biểu mô sắc tố, đội nhẹ võng mạc.

* Hình ảnh chụp mạch huỳnh quang:
Tăng huỳnh quang từ rất sớm, với cường độ tăng dần, ranh giới rõ, không thay đổi kích thước theo thời gian, không có hiện tượng khuếch tán ở thì muộn.

* OCT
Cho hình ảnh một lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố và giảm tín hiều hình thấu kính ở dưới của khối dịch dưới biểu mô sắc tố võng mạc.

1.2.3. Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch không điển hình.
* Đáy mắt:
Có thể thấy bong thanh dịch võng mạc cảm thụ, bong biểu mô sắc tố võng mạc, những biến đổi của biểu môi sắc tố võng mạc.

* Hình ảnh chụp mạch huỳnh quang:
- Có thể không thấy điểm rò. Người ta cho rằng nó quá nhỏ hoặc bị che lấp, hoặc đã sẹo hoá. Trên thực tế từ 2 đến 6 tuần, điểm rò có thể mất đi.
- Hoặc điểm rò mất lớn có thể gây giả tân mạch dưới võng mạc.
- Có thể kèm theo hình ảnh bong biểu mô sắc tố hoặc kèm theo hình ảnh biến đổi biểu mô sắc tố.

* OCT: Có sự tồn tại vùng giảm tín hiệu thể hiện có bong thanh dịch võng mạc hoặc bong biểu mô sắc tố, lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố.

1.2.4. Bệnh biểu mô sắc tố võng mạc toả lan.
Thường gặp ở nam giới, độ tuổi trên 40, bệnh có tính chất mạn tính với nhiều đợt tái phát liên tiếp, tiên lượng về thị lực xấu.

* Triệu chứng cơ năng: Những dấu hiệu chức năng biến đổi rất rõ với thị lực giảm nhiều, nhìn hình bị biến dạng và thu nhỏ, test Amsler cho thấy ám điểm trung tâm rõ cùng hiện tượng nhìn méo hình.

* Đáy mắt: Bong thanh dịch võng mạc thường thấp, có nhiều ổ, khó phát hiện, gặp nhiều ở vùng quanh đĩa thị hơn vùng hoàng điểm.

* Chụp mạch huỳnh quanh: Có nhiều điểm khuyếch tán chất màu mạn tính, thường hoạt tính thấp (hiếm gặp hình ảnh chổi lông, vòi nước).
Thường phối hợp với bong biểu mô sắc tố, tuần hoàn hắc mạc bình thường.
Những mảng lớn biến đổi biểu mô sắc tối đa dạng và nhiều ổ đưa đến hình ảnh “đuôi sao chổi” với điểm khởi phát tại đĩa thị.

* OCT:
Có sự giảm tín hiệu của lớp thanh dịch mỏng lan toả dưới võng mạc hoặc dưới biểu mô sắc tố, tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố, có thể biến đổi chiều dày của biểu mô sắc tố và võng mạc.

2. Tiến triển, tiên lượng.
Tiên lượng:
- Tiên lượng tốt nếu bị lần đầu tiên và thị lực > 6/10.
- Tiên lượng xấu nếu bệnh tái phát, có nhiều vị trí bong thanh dịch, bệnh kéo dài.

Ở hầu hết những mắt bị bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (80- 90%) trải qua quá trình tự bít lại chỗ rò rỉ, tự tiêu dịch dưới võng mạc và tự hồi phục thị lực trong vòng 1 – 6 tháng sau khởi phát triệu chứng, mặc dù có sự biến đổi nhẹ về thị giác màu hay độ nhạy cảm tương phản. Thị lực sau cùng thường rất tốt với khoảng 90% bệnh nhân đạt thị lực sau vùng = 5/10 và những khiếm khuyết thị lực còn lại có thể tiếp tục được cải thiện cho đến 1 năm.

Tuy nhiên, mất thị lực nặng được báo cáo ở 5% số bệnh nhân và nhiều mắt (40 – 50%) bị tái phát một hoặc nhiều lần.

Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch mạn tính là một dạng nặng và hiếm gặp hơn, có đặc điểm:
+ Hay gặp ở người Châu Á.
+ Tuổi trên 50.
+ Chức năng thị giác giảm nhiều.
+ Tiến triển mạn tính.
+ Tái phát liên tục.

Có nhiều yếu tố nguy cơ như: cao huyết áp, sử dụng corticoide, thuốc hướng tâm thần… hơn so với những bệnh nhân bị bệnh võng mạc trung tâm thanh dịch kinh điển.

Trên lâm sàng: thấy có sự phân bố rộng của những bong biểu mô sắc tố nhỏ, kèm theo những vùng teo biểu mô sắc tố nhỏ, kèm theo những vùng teo biểu mô sắc tố, chụp mạch huỳnh quang thấy tăng huỳnh quang không đồng đều, điểm rò mạn tính, nhiều điểm rò, phối hợp với bong biểu mô sắc tố. Bệnh còn được đặt tên là bệnh lý biểu mô sắc tố võng mạc toả lan.

3. Bệnh sinh.
* Tổn thương hàng rào máu võng mạc ngoài:
- Màng đáy của biểu mô sắc tố không còn dính vào lớp collagen của màng Bruch ở bên dưới, do biểu mô sắc tố không còn bình thường hoặc do lớp mao mạch hắc mạc bị tổn thương.
- Bong biểu mô sắc tố võng mạc khu trú làm cho chất dịch thoát vào khoang dưới võng mạc, và bong thanh dịch vùng hoàng điểm xảy ra. Bệnh nhân bị bong thanh dịch lớn nếu lỗ rò nhiều.
- Nhiều đợt bệnh tái phát, có thể gây mất bù trừ biểu mô sắc tố võng mạc (bệnh lý biểu mô sắc tố võng mạc toả lan). Bệnh có khuynh hướng bong hoàng điểm tái phát và mất thị lực vĩnh viễn.

* Những yếu tố thuận lợi hoặc làm nặng thêm bệnh:
- Nhân cách nhóm A: Các nghiên cứu đã cho thấy đa số bệnh nhân bị bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch có biểu hiện dễ xáo trộn tâm lý, không ổn định tinh thần, dễ bị stress cũng như tính tự phát và dễ bị điều khiển cao.
- Vai trò có hại của corticoide: Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng các nguyên nhân làm tăng steroid nội sinh ( Stress cảm xúc, thai kỳ, nhân cách type A, hội chứng Cushing) hoặc ngoại sinh (điều trị bằng corticoide, cấy ghép cơ quan…) là những yếu tố thuận lợi hoặc làm nặng thêm bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch cortison quá mức có thể làm tổn thương hàng rào máu – võng mạc ngoài; gây nên sự dễ vỡ của mao mạch và tăng tính thấm, tăng áp lực mạch máu ở mao mạch hắc mạc dẫn đến rò rỉ dịch vào khoang dưới võng mạc.

4. Chẩn đoán phân biệt.
* Viêm hắc võng mạc trung tâm:
Soi đáy mắt sẽ thấy những ổ viêm hắc mạc màu vàng trắng thành từng đám, từng đốm. Võng mạc tương ứng với vùng viêm phù nề nhiều, toả lan, không thành quầng. Có rối loạn sắc tố, đục dịch kính kèm theo.

* Thoái hoá Stargard:
Là thoái hoá biển mô sắc tố vùng hoàng điểm, bệnh có tính di truyền, tổn thương cả 2 mắt và đối xứng, thường xuất hiện ở tuổi thiếu nhi. Thị lực giảm dần, thị lực màu giảm với màu đỏ và xanh rồi đến màu vàng. Ám điểm trung tâm xuất hiện sớm, có khi chưa thấy tổn thương đáy mắt.
Đáy mắt: Vùng hoàng điểm phù nề nhẹ, có những chấm xám, vàng, nâu tụ thành đám bờ không rõ như đám bụi trên nền óng ánh vàng như kim nhũ, kích thước từ 1/2 đến 3 đường kính gai thị, hình tròn hoặc bầu dục.

* Thoái hoá hoàng điểm tuổi già:
Bệnh nhân trên 50 tuổi, có Drusen, tổn hại biểu mô sắc tố, có thể có màng tân mạch hắc mạc, thường cả hai mắt.

5. Điều trị.
5.1. Điều trị nội khoa.
Khi bệnh nhân được chẩn đoán bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch mà đang điều trị steroid, nên cân nhắc giảm liều hoặc ngừng steroid.
Acetazolamide (fonurit) 0,25g ngày 2 – 3 viên trong 5 – 7 ngày. Thuốc có tác dụng làm tăng sự vận chuyển ion và dịch qua biểu mô sắc tố, do đó rút ngắn thời gian tiêu dịch dưới võng mạc.

* Thuốc ưu trương:
Glucose 30% x 20ml tiêm tĩnh mạch chậm hàng ngày hoặc Mannitol 20% x 50ml tiêm tĩnh mạch.
Các thuốc tăng cường tuần hoàn:

* Thuốc giãn mạch: Dùng một trong số các thuốc sau:
- Tolazolin (Divascol): 0,01 x 1 ống tiêm hậu nhãn cầu ngày 1 ống trong 5 – 10 ngày.
- Vastarel (trimetazidin) 20mg uống ngày 2 – 3 viên.
- Vitamin PP 0,05g ngày 3 – 4 viên uống sau bữa ăn.
- Chế phẩm chiết từ cây Bạch quả: Tanakan ngày 2 viên, Giloba ngày 1 viên uống,
- Duxil ngày 2 viên uống.
Đợt điều trị 15 – 20 ngày.

5.2. Quang đông laser.
* Chỉ định:
Bong thanh dịch võng mạc có kèm theo một trong các yếu tố:
- Bệnh nhân có những điểm rò rỉ xác định rõ, trên 500 micromet từ vùng vô mạch fovea.
- Tái phát nhiều lần với giảm thị lực nhiều hoặc nhìn biến hình.
- Biến đổi vi cấu trúc hoàng điểm như phù dạng nang.
- Bong võng mạc xuất tiết hoặc mất bù trừ biểu mô sắc tố.
- Có tổn hại thị lực vĩnh viễn do những đợt bệnh trước đây ở mắt bên kia.

* Chống chỉ định:
- Điểm rò huỳnh quang cách trung tâm hoàng điểm ≤ 400 mm, ở sát hay ở trong vùng vô mạch.
- Điểm rò huỳnh quang ở ngay sát đĩa thị.

bsmat
13-08-2011, 09:31
nhân trường hợp này, bsmat cho em hỏi luôn
Có cần cho bệnh nhân làm quang đông vùng tân mạch hắc mạc luôn không ? khỏi tiêm Avastin làm gì cho gọn
Tùy từng giai đoạn của CNV và vị trí!
Bài tham khảo thêm


BỆNH HẮC VÕNG MẠC TRUNG TÂM THANH DỊCH
(Central serous chorioretinopathy)

Đây là một bệnh đã được biết tới từ lâu. Từ trước đến nay bệnh được gọi với nhiều tên khác nhau:
- Viêm võng mạc trung tâm tái phát (Von Graefe, 1866).
- Viêm võng mạc trung tâm (Asayama, 1898).
- Viêm hắc võng mạc trung tâm thanh dịch: Uhthoff (1912); Hasuda (1914), Fuchs (1916); Kitahara (1932).
+ Bong võng mạc dẹt nguyên phát vùng hoàng điểm (Walsh và Sloan, 1934).
+ Bệnh võng mạc trung tâm thanh dịch (Dorne, 1971 và Coscas, 1972).
Do bệnh ảnh hưởng cả hắc mạc và võng mạc thuật ngữ thường được sử dụng hơn ngày nay là bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch.
Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch đặc trưng bằng sự xuất hiện một bọng thanh dịch của võng mạc cảm thụ do biến đổi hàng rào hoặc các chức năng bơm ở biểu mô sắc tố võng mạc.

I. LÂM SÀNG.
Đây là bệnh của người trẻ và trung niên (từ 30 – 50 tuổi) nam gặp nhiều hơn nữ với tỷ lệ nam/nữ là 10/1; đại bộ phận bị một mắt, song cũng có một tỷ lệ nhất định bị cả hai mắt. Bệnh có tính tái phát, nhiều tác giả báo cáo tỷ lệ tái phát là 30% trong vòng 2 năm.
Người ta chia bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch thành 4 thể chủ yếu dựa vào hình ảnh chụp mạch huỳnh quang võng mạc
- Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch điển hình
- Thể bong biểu mô sắc tố đơn thuần
- Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch không điển hình
- Bệnh biểu mô sắc tố võng mạc toả lan

1.1. Triệu chứng cơ năng.
Các hình thái lâm sàng có triệu chứng cơ năng gần giống nhau. Chỉ biểu hiện những triệu chứng cơ năng khi bọng bong thanh dịch đã lan tới vùng trung tâm biểu hiện bằng hội chứng hoàng điểm.
Hội chứng hoàng điểm: Nhìn mờ: Thị lực giảm không hoàn toàn giống nhau, thường giảm còn 5/10 – 6/10; giai đoạn đầu, dùng kính viễn + 0,5D – 1 + 1,5D thị lực tăng. Có hiện tượng giả viễn thị do võng mạc bị đội lên bởi dịch rỉ dưới võng mạc.
Ở những bệnh nhân tái phát nhiều lần thị lực có thể chỉ còn 1/10 hoặc thấp hơn.
- Ám điểm trung tâm: Bệnh nhân thấy có đám mờ hoặc tối trước mắt. Ám điểm xuất hiện do rối loạn cơ năng của tế bào nón, nó bị tách ra khỏi biểu mô sắc tố bởi dịch rỉ và trao đổi dinh dưỡng giữa tế bào nón với mao mạch hắc mạc bị ảnh hưởng.
- Nhìn vật biến dạng, méo, cong, thu nhỏ và xa ra. Dùng lưới Amsler khám sẽ thấy các đường thẳng bị cong, méo mó, thường có cả ám điểm.
- Rối loạn sắc giác: Rối loạn sắc giác trục xanh – vàng là triệu chứng sớm nhất của bệnh, tồn tại lâu, khi bệnh đã ổn định, rối loạn sắc giác vẫn còn trong khoảng 2 – 3 tháng. Nó có giá trị trong chẩn đoán, theo dõi tiến triển và tiên lượng của bệnh: khi bệnh giảm rối loạn sắc giác cũng giảm, nếu bệnh tái phát nhiều lần, rối loạn sắc giác trục xanh – vàng sẽ tồn tại mãi mãi.
- Thích ứng sáng tối giảm sút: Test loá hoàng điểm: Chiếu sáng vùng hoàng điểm trong 30 giây với máy soi đáy mắt thông thường. Đo thị lực trước và sau khi làm test. Bình thường sau 30 – 50 giây, thị lực hồi phục bằng trước khi làm test. Trong các bệnh hoàng điểm, thị lực hồi phục chậm hơn người bình thường 4 – 5 lần.

1.2. Triệu chứng thực thể và cận lâm sàng.
1.2.1. Bệnh hắc võng trung tâm thanh dịch điển hình.
* Đáy mắt.
- Hoàng điểm sẫm màu, giảm hay mất ánh trung tâm.
- Dấu hiệu chính là bong thanh dịch võng mạc vùng hoàng điểm (bọng giữa lớp võng mạc cảm thụ và biểu mô sắc tố bởi một lớp dịch trong) kích thước thường khoảng 2 – 3 đường kính đĩa thị, bờ của vùng bong nghiêng và hoà nhập dần với vùng võng mạc xung quanh còn nguyên vẹn.
- Soi lập thể với đèn khe, kính Goldmann, kính Hruby hoặc kính Volk 60D – 90D giúp nhìn thấy vùng bong rõ hơn, ngoài ra nó còn giúp loại trừ màng tân mạch hắc mạc cũng xảy ra đồng thời.
Trên bọng bong này có thể thấy những chấm tủa màu vàng nhạt, nhỏ như đầu kim, tách biệt nhau, ranh giới rõ ràng, không có khuynh hướng kết nhập lại.
Các chấm tủa không có ngay từ những ngày đầu bị bệnh mà xuất hiện sau vài tuần tiến triển (theo Dorne, 1971: thường là sau 4 tuần).
Chú ý: Nếu có lẫn rối loạn sắc tố, tân mạch hay xuất huyết nên nghĩ đến phối hợp bệnh khác của vùng hoàng điểm.

* Các triệu chứng âm tính:
- Đĩa thị: Bình thường.
- Hệ mạch võng mạc: Bình thường.
- Võng mạc nơi khác: Bình thường, võng mạc trong.
Sự giảm thị lực nặng lâu dài (1/10) có liên quan đến sự tồn tại của phù hoàng điểm dạng nang, thoái hoá biểu mô sắc tố và tân mạch hắc mạc.
Không phù, không có sắc tố, tân mạch, sẹo hoặc xuất huyết dưới võng mạc.
- Dịch kính: Bình thường.

* Chụp mạch huỳnh quang:
Mạch ký huỳnh quang góp phần quan trọng trong chẩn đoán xác định bệnh, đặc biệt trong những trường hợp triệu chứng soi đáy mắt không điển hình.
Hình ảnh thường gặp nhất là một chấm nhỏ, tăng huỳnh quang từ bình diện sâu do rò từ biểu mô sắc tố võng mạc, nó xuất hiện sớm, càng về sau càng tăng dần về đậm độ và diện tích. Chất huỳnh quang toả lan vào khoang dưới võng mạc, có thể hình tròn, hình chổi lông hay vòi nước.
Bọng bong thanh dịch có ranh giới thấy rõ dưới ánh sáng qua filtre (phin) lọc cho màu xanh lục. Trong quá trình chụp mạch huỳnh quang, ở thì sớm nó thể hiện là một vùng giảm huỳnh quang do hiệu ứng che lấp huỳnh quang của hắc mạc. Đến thì muộn, nó lại là một vùng tăng huỳnh quang nhẹ do hiện tượng khuếch tán dần chất Fluorescein từ điểm rò vào khoảng dưới võng mạc.

* Chụp cắt lớp võng mạc bằng OCT:
(OCT : Optic Coherence tomography - chụp cắt lớp bằng ánh sáng cố kết).
Bong thanh dịch võng mạc nhận cảm biểu hiện bằng hình ảnh giảm tín hiệu hình thấu kính, có thể kèm theo hình ảnh bong biểu mô sắc tố võng mạc (giảm tín hiệu dưới lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố) với kích thước 3 chiều.

1.2.2. Thể bong biểu mô sắc tố đơn thuần.
* Triệu chứng cơ năng:
Nếu vị trí bong biểu mô sắc tố không ở tại vùng hoàng điểm, bệnh nhân sẽ không có hội chứng hoàng điểm.

* Đáy mắt:
Hình ảnh điển hình của bong biểu mô sắc tố là những tổn thương hình tròn, màu vàng – xám, bờ rõ, nằm sâu tại lớp biểu mô sắc tố, đội nhẹ võng mạc.

* Hình ảnh chụp mạch huỳnh quang:
Tăng huỳnh quang từ rất sớm, với cường độ tăng dần, ranh giới rõ, không thay đổi kích thước theo thời gian, không có hiện tượng khuếch tán ở thì muộn.

* OCT
Cho hình ảnh một lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố và giảm tín hiều hình thấu kính ở dưới của khối dịch dưới biểu mô sắc tố võng mạc.

1.2.3. Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch không điển hình.
* Đáy mắt:
Có thể thấy bong thanh dịch võng mạc cảm thụ, bong biểu mô sắc tố võng mạc, những biến đổi của biểu môi sắc tố võng mạc.

* Hình ảnh chụp mạch huỳnh quang:
- Có thể không thấy điểm rò. Người ta cho rằng nó quá nhỏ hoặc bị che lấp, hoặc đã sẹo hoá. Trên thực tế từ 2 đến 6 tuần, điểm rò có thể mất đi.
- Hoặc điểm rò mất lớn có thể gây giả tân mạch dưới võng mạc.
- Có thể kèm theo hình ảnh bong biểu mô sắc tố hoặc kèm theo hình ảnh biến đổi biểu mô sắc tố.

* OCT: Có sự tồn tại vùng giảm tín hiệu thể hiện có bong thanh dịch võng mạc hoặc bong biểu mô sắc tố, lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố.

1.2.4. Bệnh biểu mô sắc tố võng mạc toả lan.
Thường gặp ở nam giới, độ tuổi trên 40, bệnh có tính chất mạn tính với nhiều đợt tái phát liên tiếp, tiên lượng về thị lực xấu.

* Triệu chứng cơ năng: Những dấu hiệu chức năng biến đổi rất rõ với thị lực giảm nhiều, nhìn hình bị biến dạng và thu nhỏ, test Amsler cho thấy ám điểm trung tâm rõ cùng hiện tượng nhìn méo hình.

* Đáy mắt: Bong thanh dịch võng mạc thường thấp, có nhiều ổ, khó phát hiện, gặp nhiều ở vùng quanh đĩa thị hơn vùng hoàng điểm.

* Chụp mạch huỳnh quanh: Có nhiều điểm khuyếch tán chất màu mạn tính, thường hoạt tính thấp (hiếm gặp hình ảnh chổi lông, vòi nước).
Thường phối hợp với bong biểu mô sắc tố, tuần hoàn hắc mạc bình thường.
Những mảng lớn biến đổi biểu mô sắc tối đa dạng và nhiều ổ đưa đến hình ảnh “đuôi sao chổi” với điểm khởi phát tại đĩa thị.

* OCT:
Có sự giảm tín hiệu của lớp thanh dịch mỏng lan toả dưới võng mạc hoặc dưới biểu mô sắc tố, tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố, có thể biến đổi chiều dày của biểu mô sắc tố và võng mạc.

2. Tiến triển, tiên lượng.
Tiên lượng:
- Tiên lượng tốt nếu bị lần đầu tiên và thị lực > 6/10.
- Tiên lượng xấu nếu bệnh tái phát, có nhiều vị trí bong thanh dịch, bệnh kéo dài.

Ở hầu hết những mắt bị bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (80- 90%) trải qua quá trình tự bít lại chỗ rò rỉ, tự tiêu dịch dưới võng mạc và tự hồi phục thị lực trong vòng 1 – 6 tháng sau khởi phát triệu chứng, mặc dù có sự biến đổi nhẹ về thị giác màu hay độ nhạy cảm tương phản. Thị lực sau cùng thường rất tốt với khoảng 90% bệnh nhân đạt thị lực sau vùng = 5/10 và những khiếm khuyết thị lực còn lại có thể tiếp tục được cải thiện cho đến 1 năm.

Tuy nhiên, mất thị lực nặng được báo cáo ở 5% số bệnh nhân và nhiều mắt (40 – 50%) bị tái phát một hoặc nhiều lần.

Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch mạn tính là một dạng nặng và hiếm gặp hơn, có đặc điểm:
+ Hay gặp ở người Châu Á.
+ Tuổi trên 50.
+ Chức năng thị giác giảm nhiều.
+ Tiến triển mạn tính.
+ Tái phát liên tục.

Có nhiều yếu tố nguy cơ như: cao huyết áp, sử dụng corticoide, thuốc hướng tâm thần… hơn so với những bệnh nhân bị bệnh võng mạc trung tâm thanh dịch kinh điển.

Trên lâm sàng: thấy có sự phân bố rộng của những bong biểu mô sắc tố nhỏ, kèm theo những vùng teo biểu mô sắc tố nhỏ, kèm theo những vùng teo biểu mô sắc tố, chụp mạch huỳnh quang thấy tăng huỳnh quang không đồng đều, điểm rò mạn tính, nhiều điểm rò, phối hợp với bong biểu mô sắc tố. Bệnh còn được đặt tên là bệnh lý biểu mô sắc tố võng mạc toả lan.

3. Bệnh sinh.
* Tổn thương hàng rào máu võng mạc ngoài:
- Màng đáy của biểu mô sắc tố không còn dính vào lớp collagen của màng Bruch ở bên dưới, do biểu mô sắc tố không còn bình thường hoặc do lớp mao mạch hắc mạc bị tổn thương.
- Bong biểu mô sắc tố võng mạc khu trú làm cho chất dịch thoát vào khoang dưới võng mạc, và bong thanh dịch vùng hoàng điểm xảy ra. Bệnh nhân bị bong thanh dịch lớn nếu lỗ rò nhiều.
- Nhiều đợt bệnh tái phát, có thể gây mất bù trừ biểu mô sắc tố võng mạc (bệnh lý biểu mô sắc tố võng mạc toả lan). Bệnh có khuynh hướng bong hoàng điểm tái phát và mất thị lực vĩnh viễn.

* Những yếu tố thuận lợi hoặc làm nặng thêm bệnh:
- Nhân cách nhóm A: Các nghiên cứu đã cho thấy đa số bệnh nhân bị bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch có biểu hiện dễ xáo trộn tâm lý, không ổn định tinh thần, dễ bị stress cũng như tính tự phát và dễ bị điều khiển cao.
- Vai trò có hại của corticoide: Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng các nguyên nhân làm tăng steroid nội sinh ( Stress cảm xúc, thai kỳ, nhân cách type A, hội chứng Cushing) hoặc ngoại sinh (điều trị bằng corticoide, cấy ghép cơ quan…) là những yếu tố thuận lợi hoặc làm nặng thêm bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch cortison quá mức có thể làm tổn thương hàng rào máu – võng mạc ngoài; gây nên sự dễ vỡ của mao mạch và tăng tính thấm, tăng áp lực mạch máu ở mao mạch hắc mạc dẫn đến rò rỉ dịch vào khoang dưới võng mạc.

4. Chẩn đoán phân biệt.
* Viêm hắc võng mạc trung tâm:
Soi đáy mắt sẽ thấy những ổ viêm hắc mạc màu vàng trắng thành từng đám, từng đốm. Võng mạc tương ứng với vùng viêm phù nề nhiều, toả lan, không thành quầng. Có rối loạn sắc tố, đục dịch kính kèm theo.

* Thoái hoá Stargard:
Là thoái hoá biển mô sắc tố vùng hoàng điểm, bệnh có tính di truyền, tổn thương cả 2 mắt và đối xứng, thường xuất hiện ở tuổi thiếu nhi. Thị lực giảm dần, thị lực màu giảm với màu đỏ và xanh rồi đến màu vàng. Ám điểm trung tâm xuất hiện sớm, có khi chưa thấy tổn thương đáy mắt.
Đáy mắt: Vùng hoàng điểm phù nề nhẹ, có những chấm xám, vàng, nâu tụ thành đám bờ không rõ như đám bụi trên nền óng ánh vàng như kim nhũ, kích thước từ 1/2 đến 3 đường kính gai thị, hình tròn hoặc bầu dục.

* Thoái hoá hoàng điểm tuổi già:
Bệnh nhân trên 50 tuổi, có Drusen, tổn hại biểu mô sắc tố, có thể có màng tân mạch hắc mạc, thường cả hai mắt.

5. Điều trị.
5.1. Điều trị nội khoa.
Khi bệnh nhân được chẩn đoán bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch mà đang điều trị steroid, nên cân nhắc giảm liều hoặc ngừng steroid.
Acetazolamide (fonurit) 0,25g ngày 2 – 3 viên trong 5 – 7 ngày. Thuốc có tác dụng làm tăng sự vận chuyển ion và dịch qua biểu mô sắc tố, do đó rút ngắn thời gian tiêu dịch dưới võng mạc.

* Thuốc ưu trương:
Glucose 30% x 20ml tiêm tĩnh mạch chậm hàng ngày hoặc Mannitol 20% x 50ml tiêm tĩnh mạch.
Các thuốc tăng cường tuần hoàn:

* Thuốc giãn mạch: Dùng một trong số các thuốc sau:
- Tolazolin (Divascol): 0,01 x 1 ống tiêm hậu nhãn cầu ngày 1 ống trong 5 – 10 ngày.
- Vastarel (trimetazidin) 20mg uống ngày 2 – 3 viên.
- Vitamin PP 0,05g ngày 3 – 4 viên uống sau bữa ăn.
- Chế phẩm chiết từ cây Bạch quả: Tanakan ngày 2 viên, Giloba ngày 1 viên uống,
- Duxil ngày 2 viên uống.
Đợt điều trị 15 – 20 ngày.

5.2. Quang đông laser.
* Chỉ định:
Bong thanh dịch võng mạc có kèm theo một trong các yếu tố:
- Bệnh nhân có những điểm rò rỉ xác định rõ, trên 500 micromet từ vùng vô mạch fovea.
- Tái phát nhiều lần với giảm thị lực nhiều hoặc nhìn biến hình.
- Biến đổi vi cấu trúc hoàng điểm như phù dạng nang.
- Bong võng mạc xuất tiết hoặc mất bù trừ biểu mô sắc tố.
- Có tổn hại thị lực vĩnh viễn do những đợt bệnh trước đây ở mắt bên kia.

* Chống chỉ định:
- Điểm rò huỳnh quang cách trung tâm hoàng điểm ≤ 400 mm, ở sát hay ở trong vùng vô mạch.
- Điểm rò huỳnh quang ở ngay sát đĩa thị.
Bài này mình cũng biết!Nói chung có nhiều vấn đề cũ rồi!

Cúnkid
13-08-2011, 22:44
Đây là hình ảnh của mắt mình. BSmat cho mình ý kiến với.
http://i132.photobucket.com/albums/q31/tilisun/2.jpg
http://i132.photobucket.com/albums/q31/tilisun/1.jpg

bsmat
14-08-2011, 08:37
Vậy là được rồi!Bạn bị xuất huyết vùng hoàng điểm.Trường hợp của bạn là do tân mạch hắc mạc.Mong bạn sớm điều trị để không bị xuất huyết tái phát và xơ mạch vùng này.

Cúnkid
15-08-2011, 22:04
Bsmat cho mình hỏi tiêm IVB là tiêm cái gì?Mình tiêm lúc 5h chiều và từ lúc tiêm xong đến bây giờ là 9h cứ thấy 1 điểm đen bay bay trước mắt,hiện tượng này trước lúc tiêm không có.Xin hỏi vậy có phải là bình thường không?

bsmat
15-08-2011, 22:22
Bsmat cho mình hỏi tiêm IVB là tiêm cái gì?Mình tiêm lúc 5h chiều và từ lúc tiêm xong đến bây giờ là 9h cứ thấy 1 điểm đen bay bay trước mắt,hiện tượng này trước lúc tiêm không có.Xin hỏi vậy có phải là bình thường không?

IVB:Tốt nhất bạn nên viết cụ thể tên ra!Nếu người ta tiêm vào mắt bạn thì có thể là viết tắt của Intra-Vitreous-Bevacizumab!

Cúnkid
16-08-2011, 12:06
IVB:Tốt nhất bạn nên viết cụ thể tên ra!Nếu người ta tiêm vào mắt bạn thì có thể là viết tắt của Intra-Vitreous-Bevacizumab!

Khổ quá mình thấy bác sĩ đề trong sổ Y bạ của mình chỉ có mấy chữ là: "tiêm IVB". Ngoài ra hết. Chính vì vậy mình mới thắc mắc không hiểu là họ tiêm cho mình cái gì. Mà chuyên môn thì mình chịu nên mình không thể nào viết cụ thể ra được. Không biết thuốc này có tác dụng như thế nào?

bsmat
16-08-2011, 13:06
Khổ quá mình thấy bác sĩ đề trong sổ Y bạ của mình chỉ có mấy chữ là: "tiêm IVB". Ngoài ra hết. Chính vì vậy mình mới thắc mắc không hiểu là họ tiêm cho mình cái gì. Mà chuyên môn thì mình chịu nên mình không thể nào viết cụ thể ra được. Không biết thuốc này có tác dụng như thế nào?

IVB cũng chính là tiêm Avastin nội nhãn đấy!