PDA

View Full Version : Ưu Điểm và Hạn Chế của các Phương Pháp Chẩn Đoán Nhiễm H. pylori



albatros
04-01-2009, 08:43
Ưu Điểm và Hạn Chế của các Phương Pháp Chẩn Đoán Nhiễm H. pylori
03/01/2009


Chẩn đoán nhiễm H. pylori dựa trên các phương pháp cần nội soi sinh thiết dạ dày: mô học, cấy vi trùng, xét nghiệm nhanh urease, PCR; hoặc những biện pháp không can thiệp: huyết thanh chẩn đoán, xét nghiệm urea C13 hơi thở, xét nghiệm antigen phân.



http://hoanmysaigon.com/images/stories/tintuc/2009/Thang1/01/Picture1.jpg
H1- H. pylori đang xâm nhập và gây viêm các tế bào biểu mô niêm mạc dạ dày



A-Xét nghiệm mô học : được thực hiện thường quy qua sinh thiết dạ dày, cũng cho phép mô tả và phân loại các thương tổn viêm ở niêm mạc dạ dày đi kèm với nhiễm vi khuẩn H. pylori.




http://hoanmysaigon.com/images/stories/tintuc/2009/Thang1/01/Picture2.jpg
H2- H. Pylori trong biểu mô tuyến vùng hang vị




http://hoanmysaigon.com/images/stories/tintuc/2009/Thang1/01/Picture3.jpg
H3- H. pylori trong mẫu mô sinh thiết dạ dày của Gs Marshall, Nobel Y Học 2005 - người đã uống canh cấy H pylori để tự gây bệnh cho mình với mục đích kiểm chứng định đề Koch.



B- Xét nghiệm nhanh urease: ít nhạy hơn nhưng rất đặc hiệu. Xét nghiệm này có thể được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa tiêu hoá, chủ yếu khi phát hiện có loét tá tràng qua nội soi. Có thể làm thêm xét nghiệm mô học trong trường hợp kết quả âm tính.




http://hoanmysaigon.com/images/stories/tintuc/2009/Thang1/01/Picture4.jpg
H4- Xét nghiệm nhanh urease (CLOtest)



C- Cấy các mẫu sinh thiết: có thể giúp xác định sự đề kháng và nhạy cảm in vitro của vi khuẩn đối với kháng sinh và lên kế hoạch điều trị lần thứ nhì cho những bệnh nhân đã thất bại trong lần đầu tiên điều trị tiệt khuẩn.


http://hoanmysaigon.com/images/stories/tintuc/2009/Thang1/01/Picture5.jpg
H5- Cấy mẫu mô sinh thiết và làm kháng sinh đồ giúp
phát hiện và điều trị tiệt khuẩn H pylori



- Các phương pháp không xâm lấn thường không thích hợp để xác định bệnh lý tiềm ẩn có thể đi kèm nhiễm vi khuẩn H. pylori.

D- Các xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán: thường rẻ tiền và dễ thực hiện. Chúng có thể giúp ích cho việc tầm soát ở quần thể lớn hoặc khẳng định sự hiện diện của nhiễm H. pylori trong tình huống kết quả của những phương pháp chẩn đoán khác không rõ ràng, ví dụ, khi có loét xuất huyết, hoặc khi đã sử dụng kháng sinh hoặc thuốc kháng tiết.

E- Xét nghiệm ure C13 hơi thở: là phương pháp chính xác nhất cho tất cả các bệnh nhân, bất kể tuổi tác.




http://hoanmysaigon.com/images/stories/tintuc/2009/Thang1/01/Picture6.jpg
H6- Nguyên lý xét nghiệm urea C14 (hoặc C13) hơi thở



F- Xét nghiệm antigen phân (stool antigen testing): là một phương pháp nhiều hứa hẹn do khả năng chẩn đoán được xem như gần tương đương với xét nghiệm ure C13 hơi thở.


http://hoanmysaigon.com/images/stories/tintuc/2009/Thang1/01/Picture7.jpg
H7- Kit để xét nghiệm antigen H pylori trong phân bằng cách dùng các kháng thể đơn dòng


- Kỹ thuật này dễ thực hiện. Độ chính xác được cải thiện bằng cách dùng các kháng thể đơn dòng (monoclonal antibodies) mới được đề nghị gần đây, để bắt giữ các antigen của H. pylori hiện diện trong mẫu phân.

- Kiểm tra việc tiệt trừ H. pylori được khuyến cáo thực hiện ít nhất 4 tuần sau khi chấm dứt đợt điều trị diệt khuẩn, hoặc ít nhất 2 tuần sau khi điều trị kháng tiết, để đạt độ chính xác cao.

- Do tình hình đề kháng kháng sinh hiện nay, khi cần thiết kiểm tra nội soi, nên kết hợp cấy mẫu sinh thiết, làm kháng sinh đồ, cùng thực hiện xét nghiệm mô học.


http://hoanmysaigon.com/images/stories/tintuc/2009/Thang1/01/Picture8.jpg
H8- Kẹp dùng trong nội soi sinh thiết



Việc tìm các chỉ điểm cho độc lực của H. pylori là một đề tài nghiên cứu đầy hứa hẹn nhưng chưa được khuyên dùng trong thực hành thường quy.


Albatros biên dịch
TL Tham Khảo: Advantages and limitations of diagnostic methods for H. pylori infection De Korwin JD. PUPH de Médecine interne, Université Henri-Poincaré, Service de Médecine interne H, CHU-Hôpital Central, 54035 Nancy Cedex. PMID: 12700494 [PubMed - indexed for MEDLINE]

ngườiphươngxa
06-01-2009, 02:22
Chào các bạn,

Xin bổ sung thêm bài viết của Albatros

Bên Pháp phương pháp Urease 13c rất là thông dụng và có kết quả tốt.

Chỉ cần ra pharmacie mua 1 kit ( thuốc và dụng cụ ) có hai hiệu Helikit và Helicobacter Test INFAI.

Xét nghiệm sẽ được thực hiện ở phòng xét nghiệm (laboratoire d’analyse médicale )

Cách xét nghiệm
Sau khi nhịn ăn, uống, hút thuốc lá, 6 giờ , BN đem kit đến phòng XN, pha Urée 13c với 200 ml nước cam tươi, hoặc 1.4g acide citrique trong 200 ml nước lạnh .
Đợt đầu uống 100ml
Sau đó pha urée 13c trong 100 ml còn lại và uống tiếp.
Sau đó sẽ xét nghiệm uree 13c trong hơi thở vào lúc T0 và T30 ( 30 giây sau)

Có 2 cách để xét nghiệm

1 - Trong ống nghiệm, để 1 ống hút, BN sau khi hit vào, sẽ thở vào ống 15 giây, sau đó kéo ống hút ra và bịt nút ống và xet nghiệm vào thời điểm T0 và T30

Làm như trên 2 lần để có 2 ống T0 và 2 ống T30

2 – Thở trong bao giay
Sau khi hít vào, BN sẽ thở vào bao giấy ( phát kèm theo kit ) cho đầy bao rồi đậy nấp lại.

Sau đó sẽ xét nghiệm urée 13c lúc T0 và T30.

( Bên pháp vì vấn đề độc quyền của các phòng xét nghiệm nên test phải thực hiện ở labo...

Ở VN có thể liên lạc với các nhà bào chế với sự chấp thuận của chính quyền có thể thực hiện tại phòng mạch tư ? )

" Helikit
Réaliser l'examen au laboratoire d'analyses médicales chez le sujet à jeun, au repos, sans boire, ni manger, ni fumer.
Dissoudre l'acide citrique dans 200 ml d'eau. Faire boire la moitié (100 ml) de la solution juste avant le premier prélèvement d'air expiré (T 0).
Dissoudre l'urée 13C dans les 100 ml de solution restante et les faire boire en totalité en déclenchant le chronomètre (T 0).
Faire le 2e prélèvement d'air expiré 30 minutes après (T 30).
Technique de prélèvement d'air expiré :
Tube en verre de 10 ml :
· déboucher le tube ;
· plonger une paille au fond du tube ;
· après avoir demandé au patient d'inspirer profondément, le faire souffler dans la paille pendant environ 15 secondes jusqu'à ce qu'une condensation apparaisse au fond du tube ;
· retirer alors la paille tout en demandant au patient de continuer à souffler et reboucher le tube immédiatement ;
· refaire un 2e prélèvement d'air expiré à chaque temps (2 tubes à T 0 et 2 tubes à T 30).
Sac-réservoir gonflable de 1,3 l :
· déboucher le sac ;
· après avoir demandé au patient d'inspirer profondément, le faire souffler dans le sac jusqu'à ce qu'il soit complètement rempli ; reboucher le sac immédiatement ;
· faire un prélèvement d'air expiré à chaque temps (1 sac à T 0 et 1 sac à T 30). "

Theo tài liệu labo Mayoly Spnidler VIDAL 2008